
Cha mẹ trọng nam khinh nữ, phân biệt đối xử giữa nam và nữ có vi phạm pháp luật? Mức xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình? Các hành vi vi phạm về bình đẳng giới khác trong các lĩnh vực đời sống xã hội.
I. Căn cứ pháp lý
- Luật Hôn nhân và gia đình 2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.
- Luật Bình đẳng giới 2006, có hiệu lực từ ngày 01/07/2007.
- Nghị định 125/2021/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/01/2022.
- Nghị định 76/2026/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 125/2021/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/05/2026.
Trong gia đình, việc đối xử bình đẳng giữa con trai và con gái là nguyên tắc quan trọng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mọi trẻ em. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tình trạng cha mẹ trọng nam khinh nữ, thể hiện qua việc ưu ái hoặc hạn chế quyền của con chỉ vì giới tính. Hành vi này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ mà còn vi phạm các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình cũng như bình đẳng giới.
➧ Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, cha mẹ có nghĩa vụ đối xử bình đẳng với các con, không được phân biệt đối xử vì lý do giới hoặc vì tình trạng hôn nhân của cha mẹ.
➧ Đồng thời, khoản 4 Điều 18 Luật Bình đẳng giới 2006 quy định, con trai và con gái được gia đình giáo dục, chăm sóc và tạo điều kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.
Theo đó, cha mẹ có trách nhiệm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các con, không được ưu ái hoặc hạn chế quyền, lợi ích của bất kỳ người con nào vì lý do giới tính. Các quy định này nhằm bảo đảm mọi người con trong gia đình đều được đối xử bình đẳng và có cơ hội phát triển như nhau.
➧ Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 41 Luật Bình đẳng giới 2006 cũng quy định, hành vi phân biệt đối xử bất bình đẳng với các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính là một trong các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình.
➨ Căn cứ vào các quy định trên, có thể thấy nếu cha mẹ đối xử bất bình đẳng giữa con trai và con gái vì lý do giới tính, chẳng hạn như ưu tiên hoặc hạn chế quyền học tập, quyền được chăm sóc, giáo dục hoặc tạo điều kiện phát triển đối với con trai hoặc con gái, thì đây là hành vi vi phạm quy định của pháp luật.
Tóm lại:
Cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa con trai và con gái. Hành vi đối xử bất bình đẳng với con vì lý do giới tính là hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình. Người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
➣ Xem thêm: Dịch vụ tư vấn pháp luật theo vụ việc.
Căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định 125/2021/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Điều 5 Nghị định 76/2026/NĐ-CP), từ ngày 01/05/2026, cha mẹ có hành vi đối xử bất bình đẳng giữa các con trong gia đình vì lý do giới tính sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Ngoài ra, cha mẹ còn phải thi hành các biện pháp biện pháp khắc phục hậu quả theo khoản 5 Điều 13 Nghị định 125/2021/NĐ-CP, bao gồm:
- Buộc thực hiện việc xin lỗi công khai đối với người con bị đối xử bất bình đẳng (trừ trường hợp người con đó có đơn không yêu cầu xin lỗi).
- Buộc khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của người con bị đối xử bất bình đẳng.
—
Bên cạnh mức phạt đối với hành vi phân biệt đối xử giữa con trai và con gái, Điều 5 Nghị định 125/2021/NĐ-CP (được sửa đổi bởi Điều 5 Nghị định 76/2026/NĐ-CP) còn quy định về mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính khác trong lĩnh vực bình đẳng giới liên quan đến gia đình, bao gồm:
|
Hành vi vi phạm
|
Mức phạt tiền
|
|
Không cho phép hoặc cản trở thành viên trong gia đình thực hiện các hoạt động tạo ra thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì lý do giới tính.
|
Từ 5.000.000 - 10.000.000 đồng
|
|
Uy hiếp tinh thần hoặc đe dọa dùng vũ lực để cản trở thành viên trong gia đình đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia vào việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.
|
Từ 10.000.000 - 12.000.000 đồng
|
|
Áp đặt việc triệt sản, sử dụng biện pháp tránh thai, thực hiện lao động gia đình như là trách nhiệm của thành viên trong gia đình thuộc một giới nhất định.
|
|
Dùng vũ lực để cản trở thành viên trong gia đình đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia vào việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.
|
Từ 12.000.000 - 15.000.000 đồng
|
➣ Xem thêm: Hành vi bạo lực gia đình phạt như thế nào?
Hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới còn được quy định trong nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội (theo Điều 40, Điều 41 Luật Bình đẳng giới 2006), cụ thể:
1. Trong gia đình
- Cản trở thành viên trong gia đình đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia vào việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.
- Cản trở hoặc không cho phép thành viên trong gia đình tham gia đóng góp ý kiến về việc sử dụng tài sản chung, thực hiện các hoạt động tạo kinh tế (thu nhập) hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì định kiến giới.
- Đối xử bất bình đẳng (thiếu công bằng) giữa các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính.
- Hạn chế quyền được đi học hoặc ép buộc thành viên trong gia đình bỏ học vì lý do giới tính.
- Áp đặt việc thực hiện công việc gia đình, sử dụng biện pháp triệt sản, tránh thai như một trách nhiệm bắt buộc của thành viên thuộc một giới nhất định trong gia đình.

2. Trong lĩnh vực chính trị
- Cản trở việc nam hoặc nữ thực hiện quyền tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, tham gia vào cơ quan lãnh đạo của các tổ chức gồm: tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp vì định kiến giới.
- Cản trở hoặc không thực hiện việc bổ nhiệm nam, nữ vào vị trí quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới.
- Đặt ra và thực hiện quy định mang tính phân biệt đối xử về giới trong các hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc trong quy chế, quy định của tổ chức, cơ quan.
3. Trong lĩnh vực kinh tế
- Cản trở nam hoặc nữ thành lập công ty, thực hiện các hoạt động kinh doanh vì định kiến giới.
- Tiến hành hoạt động quảng cáo thương mại gây ra bất lợi cho các thương nhân, chủ doanh nghiệp của một giới nhất định.
4. Trong lĩnh vực lao động
- Áp dụng các điều kiện tuyển dụng khác nhau đối với lao động nam và lao động nữ cho cùng một công việc mà cả hai đều có trình độ, khả năng thực hiện như nhau (trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới).
- Từ chối tuyển dụng/hạn chế tuyển dụng lao động hoặc sa thải, cho người lao động thôi việc vì lý do giới tính hoặc do việc nuôi con nhỏ, mang thai, sinh con.
- Phân công công việc mang tính phân biệt đối xử giữa lao động nam và lao động nữ dẫn đến có sự chênh lệch về thu nhập hoặc áp dụng mức trả lương khác nhau cho những người lao động có cùng năng lực, trình độ vì lý do giới tính.
- Không thực hiện các quy định được áp dụng riêng cho lao động nữ theo đúng quy định của pháp luật.
5. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
- Quy định về độ tuổi tuyển sinh, tuổi đào tạo khác nhau giữa nam và nữ.
- Ép buộc hoặc vận động người khác bỏ học vì lý do giới tính.
- Giáo dục hướng nghiệp hay biên soạn, phổ biến sách giáo khoa có nội dung mang tính định kiến giới.
- Từ chối tuyển sinh những người đáp ứng đủ điều kiện tham gia các khóa bồi dưỡng, đào tạo vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ.
6. Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
- Cản trở việc nam hoặc nữ tham gia các hoạt động khoa học, công nghệ.
- Từ chối cho một giới tham gia vào các khóa đào tạo về khoa học và công nghệ.
7. Trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao
- Cản trở nam hoặc nữ tham gia sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật, biểu diễn và các hoạt động văn hóa khác vì định kiến giới.
- Sáng tác, lưu hành hoặc cho phép xuất bản các tác phẩm dưới bất kỳ hình thức, thể loại nào nhằm tuyên truyền, cổ vũ bất bình đẳng giới, định kiến giới.
- Truyền bá tư tưởng, xúi giục người khác thực hiện hoặc tự mình thực hiện các phong tục tập quán lạc hậu có tính chất phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức.
8. Trong lĩnh vực y tế
- Ép buộc, xúi giục hoặc cản trở người khác không tham gia vào các hoạt động giáo dục sức khỏe vì định kiến giới.
- Lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức hoặc ép buộc, xúi giục người khác phá thai vì lý do giới tính của thai nhi.
➣ Xem thêm:
- Quy định xử phạt phá thai để lựa chọn giới tính thai nhi.
- Quy định xử phạt đối với hành vi nạo phá thai trái phép.
V. Câu hỏi liên quan đến quy định xử phạt cha mẹ phân biệt đối xử giữa con trai, con gái
1. Cha mẹ trọng nam khinh nữ có vi phạm pháp luật không?
Có. Cha mẹ trọng nam khinh nữ, thể hiện qua việc phân biệt đối xử giữa con trai và con gái là hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình và có thể bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
➣ Xem chi tiết: Cha mẹ phân biệt đối xử giữa con trai và con gái vi phạm pháp luật không?
2. Cha mẹ phân biệt đối xử giữa con trai và con gái bị xử phạt như thế nào?
Cha mẹ có hành vi phân biệt đối xử giữa con trai và con gái trong gia đình sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Ngoài hình thức phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị buộc xin lỗi công khai và khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người con bị phân biệt đối xử theo quy định của pháp luật.
➣ Xem chi tiết: Mức xử phạt khi cha mẹ phân biệt đối xử giữa con trai và con gái.
3. Phân biệt đối xử giữa nam và nữ có phải là hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới không?
Phân biệt đối xử giữa nam và nữ là một trong những hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Bình đẳng giới 2006. Hành vi này không chỉ xảy ra trong gia đình mà còn nhiều lĩnh vực khác của đời sống như lĩnh vực lao động, giáo dục, chính trị, kinh tế, khoa học và công nghệ, văn hóa...
4. Những hành vi nào được xem là vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình?
Theo Điều 41 Luật Bình đẳng giới 2006, các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong gia đình bao gồm:
- Cản trở thành viên trong gia đình đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia vào việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình vì lý do giới tính.
- Cản trở hoặc không cho phép thành viên trong gia đình đóng góp ý kiến về việc sử dụng tài sản chung, thực hiện các hoạt động tạo thu nhập hoặc đáp ứng các nhu cầu khác của gia đình vì định kiến giới.
- Đối xử thiếu công bằng giữa các thành viên trong gia đình vì lý do giới tính.
- Hạn chế quyền được đi học hoặc ép buộc thành viên trong gia đình bỏ học vì lý do giới tính.
- Áp đặt việc thực hiện công việc gia đình, sử dụng biện pháp triệt sản, tránh thai như một trách nhiệm bắt buộc của thành viên thuộc một giới nhất định trong gia đình.
5. Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới được quy định trong những lĩnh vực nào của đời sống xã hội?
Theo Luật Bình đẳng giới 2006, các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới được quy định trong 8 lĩnh vực của đời sống xã hội, bao gồm: trong gia đình; lĩnh vực chính trị; lĩnh vực kinh tế; lĩnh vực lao động; lĩnh vực giáo dục và đào tạo; lĩnh vực khoa học và công nghệ; lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao và lĩnh vực y tế.
Chi tiết các hành vi vi phạm trong từng lĩnh vực được quy định cụ thể tại Điều 40, Điều 41 Luật Bình đẳng giới 2006.
➣ Xem chi tiết: Các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong đời sống xã hội.
6. Vi phạm quy định về bình đẳng giới trong gia đình bị phạt bao nhiêu tiền?
Tùy từng hành vi vi phạm cụ thể mà cá nhân vi phạm quy định về bình đẳng giới trong gia đình có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 5 triệu - 15 triệu đồng theo quy định của pháp luật.
—
Mọi nhu cầu tư vấn pháp luật, vui lòng để lại câu hỏi, thông tin ở phần bình luận bên dưới hoặc liên hệ Luật Tín Minh theo hotline 0983.081.379 (Miền Bắc), 0933.301.123 (Miền Trung) hoặc 090.884.2012 (Miền Nam) để được hỗ trợ nhanh chóng.