Luật Tín Minh

Quy định về các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là gì

Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự là gì? Ví dụ về loại trừ trách nhiệm hình sự? Phân biệt loại trừ trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự.

I. Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.
    Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực từ ngày 01/07/2025.

II. Loại trừ trách nhiệm hình sự là gì?

Pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể thế nào là loại trừ trách nhiệm hình sự. Song, căn cứ các quy định có liên quan tại Bộ luật Hình sự có thể hiểu đơn giản:

Loại trừ trách nhiệm hình sự là trường hợp mà pháp luật hình sự xác định người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội không phải là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự, do có bối cảnh thực hiện hành vi thuộc trường hợp đặc biệt theo luật định. 

III. Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

Theo Chương IV Bộ luật Hình sự 2015, có 7 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, mỗi trường hợp sẽ có điều kiện riêng. Cụ thể:

1. Sự kiện bất ngờ

Theo Điều 20 Bộ luật Hình sự 2015, loại trừ trách nhiệm hình sự do sự kiện bất ngờ là tình huống mà hậu quả nguy hại cho xã hội xảy ra ngoài khả năng nhận thức, dự liệu hợp lý của người thực hiện hành vi, hoặc trong hoàn cảnh cụ thể, pháp luật không đặt ra nghĩa vụ buộc họ phải thấy trước hậu quả đó.

Ví dụ: 

Một kỹ thuật viên vận hành thiết bị theo đúng quy trình an toàn đã được phê duyệt. Tuy nhiên, trong quá trình vận hành, thiết bị phát sinh lỗi ẩn mà việc kiểm tra thông thường theo quy trình an toàn đã phê duyệt của công ty không thể phát hiện, dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản của doanh nghiệp. Tình huống này có thể được xem xét xác định là sự kiện bất ngờ và loại trừ trách nhiệm hình sự cho kỹ thuật viên.

2. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự 

Căn cứ quy định tại Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác khiến họ bị mất khả năng điều khiển hành vi hoặc mất khả năng nhận thức thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. 

Ví dụ: 

Anh A trong cơn bệnh tâm thần cấp tính (không còn khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi theo kết luận giám định pháp y tâm thần) đã thực hiện hành vi tác động vật lý, gây thương tích cho hàng xóm. Trường hợp này có thể được xem xét là tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự và không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 

Lưu ý:

Tuy được loại trừ trách nhiệm hình sự nhưng theo Điều 46 và Điều 49 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi năm 2025), người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong trường hợp này vẫn có thể bị áp dụng biện pháp tư pháp là buộc chữa bệnh theo quy định. 

3. Phòng vệ chính đáng 

Dựa vào quy định tại Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015:

  • Phòng vệ chính đáng được hiểu là hành vi chống trả ở mức cần thiết đối với người thực hiện hành  xâm phạm đến quyền hoặc lợi ích chính đáng của bản thân hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác, xâm phạm lợi ích của Nhà nước.
  • Người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Lưu ý:

Theo khoản 2 Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015, trường hợp hành vi phòng vệ, chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không còn phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại, sẽ được xác định là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và phải chịu trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: 

A đang bị B dùng hung khí tấn công. A dùng lực cần thiết để ngăn chặn ngay hành vi tấn công của B. Nếu mức chống trả của A phù hợp với mức nguy hiểm của hành vi xâm phạm từ B, A có thể được xem xét là phòng vệ chính đáng và được loại trừ trách nhiệm hình sự. 

Ngược lại, nếu hành vi tấn công từ B đã chấm dứt nhưng A vẫn tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng không cần thiết thì A có thể bị xem xét là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

4. Tình thế cấp thiết

Khoản 1 Điều 23 Bộ luật Hình sự 2015 quy định rõ:

  • Tình thế cấp thiết là trường hợp một người buộc phải lựa chọn gây ra một thiệt hại nhỏ hơn để tránh một thiệt hại lớn hơn đang đe dọa đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, của Nhà nước hoặc của tổ chức, cơ quan. 
  • Tại thời điểm thực hiện hành vi, người thực hiện không còn cách nào khác để ngăn ngừa thiệt hại. 

Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp trên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ví dụ: 

Khi một đám cháy từ kho hàng có nguy cơ lan sang dãy nhà dân, người phụ trách cứu hộ buộc phải phá một đoạn tường rào và di chuyển một số tài sản có giá trị nhỏ để tạo lối tiếp cận chữa cháy, trong khi không còn phương án nào khác kịp thời. Nếu thiệt hại do việc phá tường nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa thì hành vi của người phụ trách cứu hộ có thể xem xét tình thế cấp thiết, được loại trừ trách nhiệm hình sự.

Lưu ý:

Nếu thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự.

5. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

Theo Điều 24 Bộ luật Hình sự, người bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội có thể không bị coi là phạm tội nếu trong hoàn cảnh cụ thể, người đó không còn cách nào khác ngoài việc phải dùng vũ lực cần thiết để gây thiệt hại cho người bị bắt giữ.

Ví dụ: 

Chị B phát hiện anh C vừa thực hiện hành vi cướp giật tài sản và đang bỏ chạy bằng xe máy, có nguy cơ tiếp tục gây nguy hiểm cho người đi đường. C bỏ trốn, chị B chỉ sử dụng biện pháp cần thiết để khống chế và giao C cho cơ quan có thẩm quyền. Nếu việc dùng vũ lực là lựa chọn cuối cùng, ở mức cần thiết và không rõ ràng vượt quá yêu cầu bắt giữ, có thể xem xét căn cứ tại Điều 24 Bộ luật Hình sự. 

Lưu ý:

Nếu sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Quy định này không cho phép tùy tiện dùng bạo lực. Việc đánh giá “cần thiết” hay “vượt quá mức cần thiết” phải căn cứ vào diễn biến thực tế: người bị bắt giữ có chống trả hay không, có vũ khí hay không, mức độ nguy hiểm của hành vi, khả năng áp dụng biện pháp khác và hậu quả đã gây ra.

6. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ

Trường hợp này được quy định tại Điều 25 Bộ luật Hình sự 2015. Cụ thể, hành vi gây thiệt hại trong khi nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới không phải là tội phạm nếu người thực hiện đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm và áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa.

Đây là quy định nhằm bảo vệ hoạt động đổi mới, sáng tạo hợp pháp, nhưng không miễn trừ cho sự cẩu thả hoặc vi phạm quy chuẩn chuyên môn. Nếu không áp dụng đúng quy trình, quy phạm hoặc không áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại, người gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Trong thực tế, để đánh giá trường hợp này thường cần xem xét hồ sơ chuyên môn, quy trình thử nghiệm, tiêu chuẩn kỹ thuật, phê duyệt của cơ quan/tổ chức có thẩm quyền nếu pháp luật chuyên ngành yêu cầu, biện pháp cảnh báo và phòng ngừa rủi ro.

Ví dụ: 

Một nhóm kỹ sư thử nghiệm vật liệu mới trong phạm vi đề tài đã được phê duyệt, tuân thủ quy trình kỹ thuật, bố trí khu vực an toàn và áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa nhưng vẫn phát sinh sự cố ngoài dự liệu, gây thiệt hại nhỏ cho thiết bị. Nếu chứng minh được việc thử nghiệm đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm và biện pháp phòng ngừa thì có thể xem xét đây là trường hợp rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ. 

7. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên

Theo Điều 26 Bộ luật Hình sự 2015, người gây thiệt hại khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:

  • Thuộc lực lượng vũ trang nhân dân;
  • Mệnh lệnh được ban hành để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh;
  • Đã thực hiện quy trình báo cáo người ra lệnh một cách đầy đủ. Tuy nhiên, sau khi được báo cáo, người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành.

Trong trường hợp trên, người phải chịu trách nhiệm hình sự là người ra mệnh lệnh.

Lưu ý:

Quy định loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 Bộ luật Hình sự 2015. 

IV. Loại trừ trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự có phải là một?

Tuy cả loại trừ trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự đều có thể dẫn đến việc người thực hiện hành vi không bị xử lý hình sự trong phạm vi nhất định nhưng là 2 chế định hoàn toàn khác nhau. 

Bạn có thể phân biệt rõ miễn trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự qua các tiêu chí sau đây.

1. Về căn cứ pháp lý chính

Loại trừ trách nhiệm hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự

Điều 20 - Điều 26 Chương IV Bộ luật Hình sự 2015.

Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

 

2. Về bản chất

Loại trừ trách nhiệm hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự

Xác định hành vi không phải là tội phạm hoặc người thực hiện không phải chịu trách nhiệm hình sự do căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự bị loại trừ ngay khi đánh giá hành vi, chủ thể và hoàn cảnh thực hiện.

Người thực hiện hành vi đã được xác định là tội phạm, nhưng được hoặc có thể được miễn trách nhiệm hình sự do thỏa mãn các điều kiện tương ứng theo luật định.

 

3. Về cách gọi chủ thể của chế định

Loại trừ trách nhiệm hình sự

Miễn trách nhiệm hình sự

Tùy trường hợp xem xét loại trừ trách nhiệm hình sự là gì mà cách gọi chủ thể sẽ khác nhau, có thể là “người gây hậu quả”, “người thực hiện hành vi”, “người chống trả” hay “người gây thiệt hại”…

Sử dụng cách gọi là “người phạm tội” hoặc “ người thực hiện tội phạm”.

 

4. Về các trường hợp áp dụng

4.1. Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

Như đã đề cập ở trên, chế định loại trừ trách nhiệm hình sự có thể được áp dụng trong các trường hợp sau: tình thế cấp thiết; sự kiện bất ngờ; gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; phòng vệ chính đáng; tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên; rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

4.2. Các trường hợp miễn trách nhiệm hình 

Theo Điều 29 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), việc miễn trách nhiệm hình sự được xem xét theo 2 nhóm trường hợp là được miễn trách nhiệm hình sự và có thể được miễn trách nhiệm hình sự. 

Cụ thể, người phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự nếu:

  • Có quyết định đại xá;
  • Hoặc có sự thay đổi chính sách pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, khiến cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm đối với xã hội.

Mặt khác, nếu thuộc một trong các trường hợp dưới đây, người phạm tội sẽ được xem xét miễn trách nhiệm hình sự:

  • Người phạm tội được xác định mắc bệnh hiểm nghèo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, khiến họ không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội;
  • Do chuyển biến của tình hình trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, khiến họ không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội;
  • Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần hiệu quả vào việc phát hiện, điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế hậu quả đến mức thấp nhất.
  • Lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được thừa nhận bởi Nhà nước và xã hội.

Ngoài ra, trường hợp người thực hiện tội phạm nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu:

  • Đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
  • Được người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội.

Tóm lại:

Loại trừ trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự là hai chế định hoàn toàn khác nhau:

  • Loại trừ trách nhiệm hình sự là trường hợp người thực hiện hành vi gây hại cho xã hội nhưng không bị coi là tội phạm và không phải chịu trách nhiệm hình sự do thuộc các trường hợp được quy định từ Điều 20 đến Điều 26 Bộ luật Hình sự 2015;
  • Trong khi đó, miễn trách nhiệm hình sự là trường hợp một người được xác định là đã thực hiện tội phạm, nhưng được miễn hoặc có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 29, Bộ luật Hình sự 2015 (được bổ sung năm 2017).


➣ Xem chi tiết:
Quy định về miễn trách nhiệm hình sự. 

V. Các câu hỏi thường gặp về loại trừ trách nhiệm hình sự

1. Có bao nhiêu trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự?

Theo Chương IV Bộ luật Hình sự 2015, có 7 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự: tình thế cấp thiết; sự kiện bất ngờ; gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; phòng vệ chính đáng; tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên; rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

➣ Xem chi tiết: Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.

2. Phòng vệ chính đáng có phải chịu trách nhiệm hình sự không?

Không. Nếu hành vi được xác định là phòng vệ chính đáng theo Điều 22 Bộ luật Hình sự 2015 thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. 

➣ Xem chi tiết: Quy định về phòng vệ chính đáng.

3. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội có được loại trừ trách nhiệm hình sự?

Không. Theo Điều 16 Bộ luật Hình sự 2015, người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Trường hợp phần hành vi đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội khác thì người thực hiện tội phạm vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đó. Đây là căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với tội định phạm, không thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Chương IV Bộ luật Hình sự 2015.

4. Người mắc bệnh tâm thần có mặc định được loại trừ trách nhiệm hình sự không?

Không phải mọi trường hợp mắc bệnh tâm thần đều được loại trừ trách nhiệm hình sự. Theo Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015, người mắc bệnh tâm thần thực hiện hành vi gây nguy hại cho xã hội chỉ được loại trừ trách nhiệm khi đảm bảo đồng thời các yêu cầu sau:

  • Ngay tại thời điểm thực hiện hành vi, tình trạng bệnh tâm thần đã tồn tại;
  • Có căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần, xác định bệnh tâm thần đã khiến người bệnh bị mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.

5. Loại trừ trách nhiệm hình sự có làm phát sinh án tích không?

Về bản chất, nếu hành vi được xác định thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự, người thực hiện hành vi sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự nên không có án tích phát sinh. 

➣ Xem thêm: Quy định về xóa án tích.

—

Mọi nhu cầu tư vấn pháp luật, vui lòng để lại câu hỏi, thông tin ở phần bình luận bên dưới hoặc liên hệ Luật Tín Minh theo hotline 0983.081.379 (Miền Bắc), 0933.301.123 (Miền Trung) hoặc 090.884.2012 (Miền Nam) để được hỗ trợ nhanh chóng.

Đánh giá mức độ hữu ích của bài viết

0.0

0 đánh giá

Luật Tín Minh cảm ơn bạn đã đánh giá dịch vụ! Hãy để lại nhận xét của bạn để chúng tôi có thể cải thiện dịch vụ hơn trong tương lại.

Hỏi đáp nhanh cùng Luật Tín Minh

Đã xảy ra lỗi rồi!!!