Luật Tín Minh

Áp giải là gì? Dẫn giải là gì? Quy định về Dẫn giải và Áp giải

Áp giải, Dẫn giải là gì? Tìm hiểu về trường hợp áp dụng dẫn giải và áp giải. Quy định về việc thi hành quyết định áp giải, dẫn giải và thẩm quyền ra quyết định.

Trong hoạt động tố tụng hình sự, áp giải và dẫn giải được xem là hai biện pháp cưỡng chế đặc thù nhằm bảo đảm sự có mặt của những chủ thể giữ vai trò trọng yếu đối với việc điều tra truy tố và xét xử. Mặc dù cùng phục vụ cho mục đích bảo đảm trật tự tố tụng nhưng mỗi biện pháp lại gắn với một nhóm đối tượng khác nhau và phản ánh mức độ can thiệp của quyền lực nhà nước vào quyền tự do thân thể của cá nhân. 

Trong bối cảnh đó, việc phân tích áp giải và dẫn giải không chỉ giúp xác định ranh giới áp dụng đúng đắn mà còn làm rõ những nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước trong tố tụng hình sự. 

I. Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có hiệu lực từ 01/01/2018.
  • Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025, có hiệu lực từ ngày 01/07/2025.

II. Áp giải là gì? Dẫn giải là gì?

Khái niệm áp giải và dẫn giải được quy định tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Hai biện pháp này đều là hình thức cưỡng chế hợp pháp được áp dụng trong tố tụng nhằm bảo đảm sự có mặt của người có nghĩa vụ tham gia tố tụng.

1. Áp giải là gì?

Khái niệm áp giải và dẫn giải được quy định tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Hai biện pháp này đều là hình thức cưỡng chế hợp pháp được áp dụng trong tố tụng nhằm bảo đảm sự có mặt của người có nghĩa vụ tham gia tố tụng.

Theo điểm k khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, áp giải được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế bị cáo, bị can, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tạm giữ, bị bắt.

Quy định này cho thấy, áp giải chỉ áp dụng đối với những người đã trở thành đối tượng chính trong vụ án hình sự như bị cáo, bị can, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tạm giữ, bị bắt. Đây là những người đã bị hạn chế quyền tự do thân thể theo quy định của pháp luật, nên biện pháp áp giải được sử dụng để bảo đảm họ có mặt đúng thời điểm phục vụ điều tra, truy tố hoặc xét xử.

2. Dẫn giải là gì?

Căn cứ quy định tại điểm I khoản 1 Điều 4 Bộ luật Hình sự 2015, dẫn giải được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành cưỡng chế người bị kiến nghị khởi tố, người bị tố giác, người làm chứng đến nơi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc cưỡng chế người bị hại trong trường hợp họ từ chối giám định.

Có thể thấy, về bản chất, dẫn giải thể hiện nỗ lực của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm sự tham gia của các chủ thể có vai trò hỗ trợ làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. 

III. Các trường hợp áp dụng và không áp dụng dẫn giải và áp giải

1. Các trường hợp áp dụng dẫn giải và áp giải 

Trường hợp áp dụng áp giải:

Đối với áp giải, theo khoản 1 Điều 127 quy định, áp giải áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc người bị buộc tội. Đây là những chủ thể đã bị hạn chế quyền tự do thân thể ở mức độ nhất định nên áp giải là biện pháp cưỡng chế tiếp theo bảo đảm họ có mặt theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng.

Trường hợp áp dụng dẫn giải:

Đối tượng bị áp dụng dẫn giải được quy định tại khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Cụ thể:

  • Người làm chứng (*): Có thể bị dẫn giải khi họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
  • Người bị hại (**): Có thể bị dẫn giải khi họ từ chối giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Việc giám định đóng vai trò quan trọng đối với việc xác định hậu quả của tội phạm.
  • Người bị tố giác hoặc người bị kiến nghị khởi tố: Có thể bị dẫn giải khi đã có căn cứ xác định họ liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án và đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không vì trở ngại khách quan hoặc lý do bất khả kháng. Đây là nhóm đối tượng nằm ở ranh giới giữa người tham gia tố tụng và người bị buộc tội nên việc dẫn giải phải được cân nhắc cẩn trọng.

Ngoài ra, biện pháp dẫn giải còn có thể được áp dụng đối với người bị buộc tội hoặc người tham gia tố tụng khác có các hành vi cản trở hoạt động tố tụng sau đây: 

  • Thực hiện việc tạo lập tài liệu giả mạo hoặc cố ý tiêu hủy chứng cứ làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, vụ việc.
  • Khai báo thông tin sai sự thật hoặc cung cấp thông tin, tài liệu không đúng.
  • Không chấp hành nghĩa vụ khai báo hoặc không cung cấp tài liệu, đồ vật theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
  • Người giám định, người định giá tài sản cố tình kết luận sai sự thật hoặc từ chối kết luận giám định mà không phải vì gặp trở ngại khách quan hoặc không có lý do bất khả kháng. 
  • Có hành vi mua chuộc, đe dọa, lừa đối hoặc sử dụng bạo lực nhằm một trong các mục đích sau:
    • Buộc người khác đứng ra làm chứng gian dối hoặc ngăn cản người làm chứng tham gia làm chứng.
    • Ngăn cản người bị hại tham gia tố tụng hay ép họ khai báo gian dối.
    • Ngăn cản người định giá tài sản, người giám định thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc những người này đưa ra kết luận không đúng với sự thật khách quan.
    • Ngăn cản người dịch thuật, người phiên dịch thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc những người này dịch thuật, phiên dịch sai.
    • Ngăn cản việc tham gia tố tụng của đại diện tổ chức, cơ quan hoặc cá nhân khác.
  • Xúc phạm danh dự, nhân phẩm hay uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo luật định.
  • Đã được triệu tập hợp lệ nhưng cố ý không có mặt mà không vì trở ngại khách quan hoặc vì lý do bất khả kháng, khiến hoạt động tố tụng gặp trở ngại.
  • Có hành vi cản trở việc phát hành, giao, nhận hoặc thông báo các văn bản tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Chú thích:

  • (*) Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người làm chứng là người biết những tình tiết liên quan đến nguồn tin về vụ án, về tội phạm, được triệu tập đến làm chứng bởi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
  • (**) Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 xác định người bị hại là tổ chức, cơ quan bị thiệt hại về uy tín, tài sản hoặc cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về tài sản, tinh thần hoặc thể chất do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.

2. Các trường hợp không áp dụng dẫn giải và áp giải

Theo khoản 6 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không được thực hiện biện pháp cưỡng chế áp giải hoặc dẫn giải đối với một trong các đối tượng và thời điểm sau đây:

➧ Về đối tượng:

  • Người già yếu.
  • Người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế. 

➧ Về thời điểm:

  • Không được bắt đầu việc cưỡng chế áp giải hoặc dẫn giải vào ban đêm. 

Quy định trên phản ánh nguyên tắc nhân đạo trong tố tụng, đồng thời hạn chế nguy cơ gây tổn hại đến sức khỏe và tính mạng của người bị cưỡng chế.

Từ các quy định nêu trên có thể nhận định rằng, áp giải và dẫn giải đều nhằm bảo đảm cho hoạt động tố tụng không bị gián đoạn nhưng mức độ can thiệp và phạm vi đối tượng của mỗi biện pháp lại khác nhau. Áp giải gắn chặt với người bị buộc tội còn dẫn giải nghiêng về những chủ thể có vai trò chứng minh hoặc liên quan đến hành vi bị khởi tố.

➣ Xem thêm: 

IV. Thẩm quyền ra quyết định dẫn giải và áp giải

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thẩm quyền ra quyết định áp giải và dẫn giải thuộc về:

  • Điều tra viên.
  • Kiểm sát viên.
  • Hội đồng xét xử.
  • Cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động điều tra. 
  • Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.

V. Quy định về việc thi hành quyết định dẫn giải và áp giải

➤ Quy định về nội dung quyết định áp giải hoặc dẫn giải

Quyết định áp giải hoặc quyết định dẫn giải phải ghi rõ các nội dung theo khoản 4 Điều 127 và khoản 2 Điều 132 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (được bổ sung bởi Luật sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự 2025) gồm:

  • Thông tin cá nhân của người bị áp giải hoặc dẫn giải: họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, địa chỉ cư trú.
  • Địa điểm, thời gian người bị dẫn giải hoặc áp giải phải có mặt.
  • Thông tin về văn bản tố tụng:
    • Địa điểm, thời gian ban hành văn bản tố tụng.
    • Nội dung, căn cứ ban hành văn bản tố tụng.
    • Họ và tên, chức vụ, chữ ký (chữ ký số hoặc chữ ký trực tiếp) của người ban hành văn bản tố tụng và đóng dấu.

Việc tuân thủ quy định về nội dung này giúp bảo đảm giá trị pháp lý của quyết định và tạo cơ sở để kiểm tra tính hợp pháp của quyết định trong trường hợp có khiếu nại.

➤ Quy định khác:

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 5 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người thi hành quyết định dẫn giải hoặc quyết định áp giải phải tiến hành:

  • Đọc, giải thích về quyết áp giải/dẫn giải.
  • Lập biên bản về việc áp giải/dẫn giải theo đúng quy định của pháp luật hiện hành (Điều 133 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015). 

Quân đội nhân dân và Cơ quan Công an nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm thi hành quyết định áp giải và dẫn giải. Đây là quy định bảo đảm mang tính tổ chức nhằm tránh sự tùy tiện trong việc thực hiện biện pháp cưỡng chế.

Việc không được áp giải hoặc dẫn giải vào ban đêm và không được cưỡng chế người già yếu hoặc người bị bệnh nặng như Luật Tín Minh đã chia sẻ ở trên là giới hạn bắt buộc để bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự. 

VI. Các câu hỏi thường gặp về dẫn giải và áp giải

1. Quyết định áp giải phải có những nội dung gì?

Quyết định áp giải phải thể hiện đầy đủ các nội dung theo khoản 4 Điều 127 và khoản 2 Điều 132 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 gồm: thông tin cá nhân của người bị áp giải, thời gian và địa điểm người bị áp giải/dẫn giải phải có mặt, thông tin về văn bản tố tụng theo luật định.

Việc ghi nhận đầy đủ các nội dung trên nhằm bảo đảm quyền kiểm tra và khiếu nại của người bị áp dụng biện pháp áp giải.

➣ Xem chi tiết: Nội dung của quyết định áp giải.

2. Dẫn giải và áp giải khác nhau như thế nào?

Áp giải áp dụng đối với người bị buộc tội hoặc người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Dẫn giải áp dụng đối với người làm chứng, người bị hại từ chối giám định và người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố không có mặt theo giấy triệu tập. Mỗi biện pháp có đối tượng áp dụng khác nhau nên mức độ can thiệp khác nhau.

3. Có được dẫn giải người làm chứng vào ban đêm hay không?

Theo khoản 6 Điều 127 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, không được dẫn giải người làm chứng vào ban đêm. Đây là giới hạn bắt buộc nhằm bảo đảm an toàn cho người bị dẫn giải và hạn chế nguy cơ lạm quyền.

➣ Xem chi tiết: Các trường hợp không áp dụng dẫn giải.

Áp giải và dẫn giải là hai biện pháp cưỡng chế quan trọng của tố tụng hình sự nhằm bảo đảm sự có mặt của người tham gia tố tụng. Việc áp dụng phải tuân thủ đúng căn cứ điều kiện thẩm quyền và trình tự theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Việc hiểu đúng và áp dụng đúng hai biện pháp này giúp bảo vệ quyền con người trong tố tụng và bảo đảm hoạt động điều tra truy tố xét xử được tiến hành hiệu quả minh bạch.

Mọi nhu cầu tư vấn pháp luật, vui lòng để lại câu hỏi, thông tin ở phần bình luận bên dưới hoặc liên hệ Luật Tín Minh theo hotline 0983.081.379 (Miền Bắc), 0933.301.123 (Miền Trung) hoặc 090.884.2012 (Miền Nam) để được hỗ trợ nhanh chóng.

Đánh giá mức độ hữu ích của bài viết

0.0

0 đánh giá

Luật Tín Minh cảm ơn bạn đã đánh giá dịch vụ! Hãy để lại nhận xét của bạn để chúng tôi có thể cải thiện dịch vụ hơn trong tương lại.

Hỏi đáp nhanh cùng Luật Tín Minh

Đã xảy ra lỗi rồi!!!